ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
16TM1-5 Khu Đô Thị The Manor Central Park, đường Nguyễn Xiển, phường Định Công, thành phố Hà Nội - Hotline: 0936 018 199 - Email: minhdunglawfirm@gmail.com
Giấy khai sinh không có tên cha thì khi cha mất con có được quyền hưởng di sản thừa kế khi không có di chúc hay không? Giấy khai sinh không có tên cha thì ảnh hưởng gì đến quyền lợi của con? Di sản thừa kế được hạn chế phân chia khi nào?
Khi người để lại di sản mà không để lại di chúc, thì theo quy định của pháp luật, di sản sẽ được phân chia theo các nguyên tắc được quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015. Người thừa kế theo pháp luật được xác định theo các đối tượng và thứ tự sau:
Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Như vậy, đối với trường hợp giấy khai sinh không có tên cha thì khi cha mất con vẫn có quyền hưởng di sản thừa kế của cha.
Tuy nhiên, để được nhận thừa kế thì cần làm thủ tục xác nhận quan hệ cha con hợp pháp; sau đó sẽ được chia di sản như những người thừa kế cùng hàng.

Giấy khai sinh không có tên cha thì khi cha mất con có được quyền hưởng di sản thừa kế khi không có di chúc hay không? (Hình từ Internet)
Giấy khai sinh không có tên cha và giấy khai sinh có đầy đủ thông tin cha mẹ đều có giá trị pháp lý như nhau. Tuy nhiên, về quyền lợi, trẻ em không có tên cha trong giấy khai sinh sẽ bị hạn chế một số quyền liên quan đến cha đẻ như sau:
(1) Về quyền yêu cầu cha cấp dưỡng cho con
Căn cứ theo khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:
Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
...
24. Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này.
Theo quy định trên, người cha có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nếu chung huyết thống. Tuy nhiên, trường hợp cha mẹ không đăng ký kết hôn và giấy khai sinh của con không có tên cha, việc yêu cầu cấp dưỡng sẽ khó khăn.
Trong hồ sơ khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng cần có các giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ cha con thì Tòa án mới có cơ sở để xử lý vụ việc.
Nếu không xuất trình được giấy khai sinh có tên cha và người cha không muốn cấp dưỡng thì rất khó để đòi quyền lợi cho con.
(2) Về quyền hưởng di sản thừa kế từ cha
Trong trường hợp thừa kế theo pháp luật (không có di chúc), để được nhận di sản từ cha, người con phải chứng minh được quan hệ cha con.
Giấy khai sinh là căn cứ phổ biến để xác nhận mối quan hệ này.
Nếu giấy khai sinh không có tên cha, việc chứng minh sẽ gặp khó khăn, do thiếu tài liệu hợp pháp, như vậy người con không được hưởng thừa kế nếu không bổ sung được chứng cứ khác.
Căn cứ Điều 661 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hạn chế phân chia di sản như sau:
Hạn chế phân chia di sản
Trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia.
Trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn này không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm.
Như vậy, di sản thừa kế được hạn chế phân chia trong trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế.
