ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
16TM1-5 Khu Đô Thị The Manor Central Park, đường Nguyễn Xiển, phường Định Công, thành phố Hà Nội - Hotline: 0936 018 199 - Email: minhdunglawfirm@gmail.com
- Theo khoản 8 Điều 2 Luật Cư trú 2020 thì thường trú là nơi công dân sinh sống ổn định, lâu dài và đã được đăng ký thường trú.
- Theo đó, trẻ dưới 6 tuổi là người chưa thành niên, căn cứ tại khoản 1 Điều 21 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định "Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi".
Cũng tại Bộ luật Dân sự 2015 tại Điều 41 quy định về nơi cư trú dành cho trẻ chưa thành niên, như sau:
Điều 41. Nơi cư trú của người chưa thành niên
1. Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống.
2. Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.
Đồng thời tại Điều 12 Luật Cư trú 2020 (Sửa đổi bổ sung bởi Khoản 3 Điều 4 Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2026) cũng quy định về nơi cư trú của trẻ chưa thành niên:
Điều 12. Nơi cư trú của người chưa thành niên
1. Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống; trường hợp không xác định được nơi thường xuyên chung sống thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi do cha, mẹ thỏa thuận; trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được thì nơi cư trú của người chưa thành niên do Tòa án quyết định.
2. Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.
Như vậy, nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của ba mẹ, hoặc nơi của mẹ hoặc nơi của ba nếu ba và me có nơi cư trú khác nhau. Và trường hợp có nơi cư trú khác ba và mẹ nếu có sự đồng ý của ba mẹ và pháp luật.
Vậy những điểm mới nào về thường trú dành cho trẻ dưới 6 tuổi?
- Theo khoản 2 Điều 20 Luật Cư trú 2020 (Sửa đổi, bổ sung bởi điểm a khoản 4 Điều 4 Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025 có hiệu lực từ ngày 1/7/2026), như sau:
Người dưới 6 tuổi được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp không thuộc quyền sở hữu của mình khi về ở với cha, mẹ, người giám hộ mà không cần sự đồng ý của chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đó.
Đồng nghĩa với việc trên tờ khai cư trú không cần chữ ký xác nhận của chủ hộ hoặc chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp.
- Đặc biệt tại khoản 8 Điều 20 Luật Cư trú 2020 (được sửa đổi bổ sung bởi điểm b khoản 4 Điều 4 Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025 có hiệu lực từ ngày 1/7/2026), như sau:
Công dân không được đăng ký thường trú mới tại chỗ ở quy định tại Điều 23 của Luật này, trừ trường hợp người dưới 6 tuổi được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp không thuộc quyền sở hữu của mình khi về ở với cha, mẹ, người giám hộ và quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.