ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CÔNG TY LUẬT TNHH MINH DŨNG

16TM1-5 Khu Đô Thị The Manor Central Park, đường Nguyễn Xiển, phường Định Công, thành phố Hà Nội - Hotline: 0936 018 199 - Email: minhdunglawfirm@gmail.com

  • Trang chủ
  • BỘ MÁY CÔNG TY
  • VBPL
    • Luật
    • Nghị định
    • Nghị quyết
    • Thông tư
    • Quyết định
    • Văn bản khác
  • BÀI VIẾT MỚI
  • BIỂU MẪU
    • Biểu mẫu Luật Hình sự
    • Biểu mẫu Luật Hôn nhân và gia đình
    • Biểu mẫu Doanh nghiệp
  • ĐĂNG KÝ TƯ VẤN

Danh mục dịch vụ

  • Biểu Mẫu
  • Hỗ trợ doanh nghiệp
  • Tố tụng
  • Nhân sự
  • Tư vấn pháp luật
  • Hôn nhân
  • Hình sự
  • Dịch vụ pháp lý khác
Facebook

Hỗ trợ trực tuyến

Customer Support
Luật sư Hà 0936018199
  • Trang chủ
  • Tin tức

Sau ly hôn có được yêu cầu chia nghĩa vụ trả nợ chung không? Nợ chung trong thời kỳ hôn nhân được xác định như thế nào?

Thứ hai, Ngày 04/05/2026 08:46

Sau ly hôn có được yêu cầu chia nghĩa vụ trả nợ chung không? Nợ chung trong thời kỳ hôn nhân được xác định như thế nào? Chồng được vợ ủy quyền đứng tên vay nợ thì vợ có nghĩa vụ trả nợ chung hay không?

Sau ly hôn có được yêu cầu chia nghĩa vụ trả nợ chung không?

Căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ, chồng như sau:

Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng
1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.
2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.

Đồng thời theo Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

(1) Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

(2) Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

(3) Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

(4) Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

(5) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

(6) Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

Tại Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về việc giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn như sau:

Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn
1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.
2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.

Như vậy theo các quy định nêu trên thì việc giải quyết nợ chung khi ly hôn được xác định là nghĩa vụ chung của vợ chồng. Do đó cả 2 bên đều có nghĩa vụ phải trả nợ như nhau khi ly hôn.

Cụ thể, trường hợp có tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Bộ Luật Dân sự 2015 để giải quyết.

Trường hợp vợ chồng và người thứ ba là bên chủ nợ có thỏa thuận khác thì nợ chung sẽ được chia theo thỏa thuận các bên.

TÀI SẢN RIÊNG CÓ ĐƯỢC DÙNG ĐỂ TRẢ NỢ CHUNG SAU LY HÔN KHÔNG? - Luật Sư giỏi  Nha Trang Khánh Hòa - Luật sư, Thạc sĩ Vũ Như Hảo - Công

Sau ly hôn có được yêu cầu chia nghĩa vụ trả nợ chung không? Nợ chung trong thời kỳ hôn nhân được xác định như thế nào? (Hình từ Internet)

Nợ chung trong thời kỳ hôn nhân được xác định như thế nào?

Căn cứ theo Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, thì vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có các nghĩa vụ chung về tài sản như sau:

Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

Đồng thời tại khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình.

Do đó, nợ chung của vợ chồng phát sinh không nhất thiết phải cần hai bên cùng thỏa thuận xác lập mà có thể do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình; từ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 thì cha mẹ phải bồi thường.

Chồng được vợ ủy quyền đứng tên vay nợ thì vợ có nghĩa vụ trả nợ chung hay không?

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
...

Đồng thời tại khoản 2 Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

Căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng
1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch được xác định theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.
...

Theo đó, vợ có thể ủy quyền cho chồng để xác lập thực hiện giao dịch vay nợ theo quy định pháp luật.

Như vậy, trường hợp chồng đứng tên vay nợ thì vợ vẫn phải có nghĩa vụ trả nợ chung nếu vợ có ủy quyền cho chồng để xác lập thực hiện giao dịch vay nợ theo quy định pháp luật.

Bài viết liên quan

  • Có được thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có điều kiện kinh tế tốt hơn sau ly hôn hay không?

  • Giải quyết tranh chấp đất đai đã có sổ đỏ: Quy trình và thủ tục mới nhất theo Luật Đất đai 2024

  • Xúi giục người khác giết người cũng được tính là phạm tội giết người theo Bộ luật Hình sự 2015?

  • Cha được dành quyền nuôi con trong trường hợp nào khi chưa đăng ký kết hôn? Trách nhiệm của xã hội đối với hôn nhân?

  • Phân biệt các loại đất theo Luật Đất đai 2024

  • Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng không?

  • Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự 2026 bị phạt bao nhiêu tiền theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP?

  • Trường hợp không ai chiếm hữu phần tài sản đã hết thời hiệu chia thừa kế đối với di sản không có người thừa kế thì có được xác lập quyền sở hữu toàn dân?

  • Trên Sổ đỏ có mục nào ghi rõ tài sản chung của vợ chồng hay không? Có giới hạn số lượng người đứng tên Sổ đỏ hay không?

  • Luật Đất đai 2003 còn hiệu lực hay không? Người sử dụng đất được quy định ra sao theo Luật Đất đai 2003 và Luật Đất đai hiện hành?

CÔNG TY LUẬT TNHH MINH DŨNG

Hợp tác thành công

icon

Địa Chỉ :
16TM1-5 Khu Đô Thị The Manor Central Park, đường Nguyễn Xiển, phường Định Công, thành phố Hà Nội

Hotline : 0936 018 199

Fax :

Mail :
minhdunglawfirm@gmail.com

Facebook
  • Home
  • Về chúng tôi
  • Dịch vụ
  • Tin tức

Copyright © 2018 - All rights reserved

Mời bạn nhập thông tin. Chúng tôi sẽ gọi lại tư vấn

CHAT VỚI CHÚNG TÔI