ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
16TM1-5 Khu Đô Thị The Manor Central Park, đường Nguyễn Xiển, phường Định Công, thành phố Hà Nội - Hotline: 0936 018 199 - Email: minhdunglawfirm@gmail.com
Chồng tự ý bán đất là tài sản chung mà không có sự đồng ý của vợ thì có hợp pháp không? Sổ đỏ chỉ đứng tên chồng thì vợ có mất quyền với mảnh đất đó không? Tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn sẽ được chia như thế nào?
Căn cứ theo Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định cụ thể như sau:
Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung
1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.
2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:
a) Bất động sản;
...
Như vậy, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong trường hợp bất động sản.
Đồng thời tại khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
Theo Điều 31 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 được quy định cụ thể như sau;
Giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng
Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng.
Như vậy, chồng không được tự ý bán đất là tài sản chung khi chưa có sự đồng ý của vợ; việc định đoạt bất động sản phải có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng.
Căn cứ tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:
- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
- Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
- Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Như vậy, tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn được chia theo thỏa thuận giữa hai bên; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ chia theo nguyên tắc công bằng, có xem xét các yếu tố như công sức đóng góp, hoàn cảnh mỗi bên và bảo vệ quyền lợi chính đáng.
.jpg)
Chồng tự ý bán đất là tài sản chung mà không có sự đồng ý của vợ thì có được không? Sau khi ly hôn tài sản chung được chia như thế nào? (Hình từ Internet)
Để biết việc chồng đứng tên một mình trên Sổ đỏ có khiến vợ bị thiệt thòi hay không, trước hết cần xác định rõ mảnh đất đó là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của chồng. Trong từng trường hợp, quyền lợi của người vợ sẽ được pháp luật quy định khác nhau. Cụ thể, như sau:
(1) Mảnh đất là tài sản chung của vợ chồng
Nếu mảnh đất được xác định là tài sản chung, thì vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc sử dụng và định đoạt, dù Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) chỉ đứng tên một người.
Căn cứ theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được xem là tài sản chung nếu:
- Được hình thành sau khi kết hôn, trừ khi là tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc có được bằng tài sản riêng của một bên;
- Được tặng cho chung, thừa kế chung hoặc được hai vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung;
- Khi không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng của một bên thì mặc nhiên được coi là tài sản chung.
Như vậy, trường hợp sổ đỏ chỉ đứng tên chồng là tài sản chung, người vợ vẫn có đầy đủ quyền lợi, dù không cùng đứng tên trên Sổ đỏ.
(2) Mảnh đất là tài sản riêng của chồng
Nếu mảnh đất được xác định là tài sản riêng của chồng, thì theo khoản 1 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, người chồng có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản đó, trừ khi:
- Vợ chồng có thỏa thuận khác về việc cùng quản lý, sử dụng hoặc định đoạt tài sản;
- Người chồng không thể tự quản lý và cũng không ủy quyền cho người khác, thì người vợ có thể được quyền quản lý tài sản thay.
Do đó, nếu nhà đất là tài sản riêng, người vợ không có quyền sở hữu hay định đoạt đối với tài sản này. Tuy nhiên, nếu chứng minh được tài sản đó được hình thành từ nguồn tài sản chung hoặc có sự đóng góp của vợ, thì vẫn có thể yêu cầu Tòa án xem xét, bảo vệ quyền lợi hợp lý khi giải quyết tranh chấp.
Như vậy, trường hợp sổ đỏ chỉ đứng tên chồng thì không làm mất quyền của vợ nếu quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng theo quy định pháp luật.
Ngược lại, nếu mảnh đất là tài sản riêng của chồng, thì quyền định đoạt, sử dụng, chuyển nhượng thuộc về người chồng, trừ khi hai bên có thỏa thuận khác hoặc vợ chứng minh được có đóng góp hợp pháp vào việc hình thành tài sản đó.
