ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CÔNG TY LUẬT TNHH MINH DŨNG

16TM1-5 Khu Đô Thị The Manor Central Park, đường Nguyễn Xiển, phường Định Công, thành phố Hà Nội - Hotline: 0936 018 199 - Email: minhdunglawfirm@gmail.com

  • Trang chủ
  • BỘ MÁY CÔNG TY
  • VBPL
    • Luật
    • Nghị định
    • Nghị quyết
    • Thông tư
    • Quyết định
    • Văn bản khác
  • BÀI VIẾT MỚI
  • BIỂU MẪU
    • Biểu mẫu Luật Hình sự
    • Biểu mẫu Luật Hôn nhân và gia đình
    • Biểu mẫu Doanh nghiệp
  • ĐĂNG KÝ TƯ VẤN

Danh mục dịch vụ

  • Biểu Mẫu
  • Hỗ trợ doanh nghiệp
  • Tố tụng
  • Nhân sự
  • Tư vấn pháp luật
  • Hôn nhân
  • Hình sự
  • Dịch vụ pháp lý khác
Facebook

Hỗ trợ trực tuyến

Customer Support
Luật sư Hà 0936018199
  • Trang chủ
  • Tin tức

Bị hại đã rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích thì có được nộp đơn lại không?

Thứ ba, Ngày 02/06/2026 11:10

Bị hại đã rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích thì không được nộp đơn lại trừ trường hợp bị ép buộc, cưỡng bức rút đơn.

Bị hại đã rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích thì có được nộp đơn lại không?

Nếu bị hại đã rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích thì không được nộp đơn lại, nếu như không chứng minh được việc mình rút đơn là do bị ép buộc, cưỡng bức.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Cụ thể Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2021 quy định:

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ Luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

>> Mức phạt tù với tội cố ý gây thương tích năm 2026 chi tiết ra sao?

Quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Bị hại đã rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích thì có được nộp đơn lại không?

Chỉ khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích khi có yêu cầu của bị hại trong trường hợp nào?

Như quy định trên có nêu rõ, chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ Luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

Trong đó, Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bởi khoản 22 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, điểm b khoản 1 Điều 177 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024), khoản 1:

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Theo đó, việc khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích thuộc một trong những trường hợp trên (thuộc khoản 1) chỉ được thực hiện khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

Căn cứ để khởi tố vụ án hình sự là gì?

Theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

- Tố giác của cá nhân;

- Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

- Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

- Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

- Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

- Người phạm tội tự thú.

Đồng thời cũng không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

- Không có sự việc phạm tội;

- Hành vi không cấu thành tội phạm;

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

- Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Tội phạm đã được đại xá;

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;

- Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

(Căn cứ pháp lý: Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2021)

>> Người có quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự khi thuộc một trong những trường hợp nào?

Bài viết liên quan

  • Xử phạt hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng mới nhất cập nhật đến tháng 5/2026

  • Khi đăng ký kết hôn giữa hai người Việt Nam từ 1/1/2026 có cần xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không?

  • Người chung hộ khẩu với người đã mất có đương nhiên được hưởng quyền thừa kế di sản hay không?

  • Khi nào được áp dụng miễn trách nhiệm hình sự?

  • Công văn 244/QLĐĐ-KSQLSDĐÐ hướng dẫn về tranh chấp đất đai, hòa giải tranh chấp đất đai ra sao?

  • Đã hết thời hiệu có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế không? Không áp dụng thời hiệu khởi kiện khi nào?

  • Ly hôn của người nước ngoài có thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án Việt Nam không? Quy định pháp luật cụ thể ra sao?

  • Sổ đỏ bố mẹ tặng cho con gái đã có chồng là tài sản riêng hay là tài sản chung? Khi nào con rể được đứng tên trong sổ đỏ bố mẹ tặng cho con gái?

  • Sử dụng ma túy lần đầu bị phạt như thế nào 2026? Người sử dụng ma túy có bị phạt tù không? Sử dụng ma túy đá bị phạt như thế nào 2026?

  • Có được ủy quyền khiếu nại về đất đai hay không? Người khiếu nại về đất đai được ủy quyền cho ai?

CÔNG TY LUẬT TNHH MINH DŨNG

Hợp tác thành công

icon

Địa Chỉ :
16TM1-5 Khu Đô Thị The Manor Central Park, đường Nguyễn Xiển, phường Định Công, thành phố Hà Nội

Hotline : 0936 018 199

Fax :

Mail :
minhdunglawfirm@gmail.com

Facebook
  • Home
  • Về chúng tôi
  • Dịch vụ
  • Tin tức

Copyright © 2018 - All rights reserved

Mời bạn nhập thông tin. Chúng tôi sẽ gọi lại tư vấn

CHAT VỚI CHÚNG TÔI