ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
16TM1-5 Khu Đô Thị The Manor Central Park, đường Nguyễn Xiển, phường Định Công, thành phố Hà Nội - Hotline: 0936 018 199 - Email: minhdunglawfirm@gmail.com
Bật nhạc đám cưới tại nhà hàng có phải trả tiền bản quyền hay không? Quy định cụ thể như thế nào?
1, Bật nhạc đám cưới tại nhà hàng có phải trả tiền bản quyền hay không? Quy định cụ thể như thế nào?
Theo quy định hiện nay thì việc nhà hàng tiệc cưới tổ chức đám cưới cho khách hàng và bật nhạc để phục vụ cho tiệc cưới sẽ phải chi trả tiền bản quyền.
Cụ thể, tại tại Điều 35 Nghị định 17/2023/NĐ-CP có cụm từ bị thay thế và bổ sung theo khoản 6, khoản 7 Điều 34 Nghị định 134/2026/NĐ-CP cũng có quy định như sau:
Trả tiền bản quyền trong trường hợp giới hạn quyền tác giả, giới hạn quyền liên quan
“1. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng, tái phát sóng, truyền đạt đến công chúng chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào quy định tại điểm a khoản 1, 3a Điều 26 và điểm a khoản 1, 2a Điều 33 của Luật Sở hữu trí tuệ không phải xin phép, nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan đối với bản ghi âm, ghi hình theo thỏa thuận kể từ khi sử dụng; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì phải trả tiền bản quyền theo biểu mức quy định tại Phụ lục I của Nghị định này hoặc khởi kiện tại tòa án theo quy định của pháp luật.
2. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng, tái phát sóng, truyền đạt đến công chúng chương trình phát sóng không có tài trợ, quảng cáo và không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào quy định tại điểm a khoản 1, 3a Điều 26 và điểm a khoản 1, 2a Điều 33 của Luật Sở hữu trí tuệ không phải xin phép, nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan đối với bản ghi âm, ghi hình theo biểu mức quy định tại Phụ lục I của Nghị định này”
Như vậy, trường hợp nhà hàng sử dụng nhạc của người các tác giả khác để phục vụ tổ chức tiệc cưới thì phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả, vì việc mở nhạc này là phục vụ cho hoạt động kinh doanh của nhà hàng.
Trên thực tế, có những nhà hàng đã trả tiền bản quyền cho một số ca khúc nhất định để phục vụ cho tiệc cưới và phần tiền bản quyền này đã nằm trong chi phí dịch vụ khi đặt tiệc cưới. Tuy nhiên, nếu trường hợp chủ tiệc muốn nhà hàng phát những "playlist" riêng hoặc những bài hát mà nhà hàng chưa trả tiền tiền bản quyền thì cần trao đổi với nhà hàng về chi phí bản quyền trong trường hợp này.
Căn cứ khoản 2 Điều 38 Nghị định 341/2025/NĐ-CP quy định như sau:
Hành vi vi phạm quy định về trường hợp giới hạn quyền tác giả, giới hạn quyền liên quan
“1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không cung cấp danh mục, thời lượng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã sử dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan khi sử dụng tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép định hình trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục đích thương mại hoặc bản ghi âm, ghi hình đã được công bố nhằm mục đích thương mại trong nhà hàng, quán cà phê, khách sạn, cửa hàng, siêu thị, khu vui chơi, giải trí, trung tâm thương mại; câu lạc bộ thể dục, chăm sóc sức khỏe - thẩm mỹ, hàng không, giao thông công cộng và các hoạt động kinh doanh, thương mại có bản chất tương tự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 26 và khoản 1, khoản 2 Điều 33 của Luật số 50/2005/QH11 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12, Luật số 42/2019/QH14, Luật số 07/2022/QH15 và Luật số 93/2025/QH15.
...
6. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc cung cấp danh mục, thời lượng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã sử dụng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Buộc trả cho chủ thể quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan số lợi bất hợp pháp thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này trong trường hợp phát sinh số lợi bất hợp pháp;
c) Buộc gỡ bỏ biện pháp ngăn chặn, cản trở việc phổ biến, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với hành vi quy định tại khoản 5 Điều này.”
Bên cạnh đó, tại Điều 5 Nghị định 341/2025/NĐ-CP quy định như sau:
Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức và xác định số lợi bất hợp pháp thu được, thiệt hại cho chủ sở hữu quyền, giá trị hàng hóa vi phạm
“1. Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan đối với cá nhân là 250.000.000 đồng. Mức phạt tiền tối đa đối với tổ chức là 500.000.000 đồng.
Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Hộ kinh doanh, hộ gia đình, cộng đồng dân cư vi phạm hành chính bị áp dụng mức phạt tiền như đối với cá nhân vi phạm hành chính.
2. Mức tiền phạt quy định tại Chương II của Nghị định này là mức tiền phạt áp dụng đối với cá nhân, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 13, khoản 2 Điều 16, khoản 2 Điều 20, khoản 2 Điều 22, khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27, khoản 2 Điều 32, khoản 2 Điều 35, các khoản 2, 3 và 4 Điều 37, các khoản 1, 2, 3, 4, 5, và 7 Điều 41, các Điều 45, 46, điểm d khoản 5 Điều 47 và Điều 48 của Nghị định này là mức tiền phạt áp dụng đối với tổ chức.”
Như vậy, nhà hàng tiệc cưới bật nhạc đám cưới mà không trả tiền bản quyền thì sẽ bị xử phạt từ 20 triệu đồng đến 40 triệu đồng. Đồng thời, nhà hàng còn bị buộc phải trả cho chủ thể quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan số lợi bất hợp pháp thu được từ việc bật nhạc đám cưới mà không trả tiền bản quyền.
Hiện nay, căn cứ Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định về biểu mức tiền bản quyền khi sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình trong hoạt động kinh doanh, thương mại trong trường hợp giới hạn quyền tác giả, giới hạn quyền liên quan thì:
Số tiền bản quyền chi trả (tính theo năm) = Mức lương cơ sở x Hệ số điều chỉnh
Trong đó, mức lương cơ sở từ ngày 1/7/2026 trở đi sẽ là 2.530.000 đồng.
Tuy nhiên, từ ngày 1/7/2026 thì Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 17/2023/NĐ-CP được sửa đổi bởi Điều 33 Nghị định 134/2026/NĐ-CP như sau:
Sửa đổi, bổ sung phần ghi chú của Phụ lục II
“Ghi chú:
1. Đối với các hoạt động kinh doanh, thương mại quy định tại các mục số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 của Phụ lục này áp dụng quy định phân loại đô thị như sau:
a) Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: Áp dụng theo khung giá;
b) Đô thị loại I: Áp dụng 80% khung giá;
c) Đô thị loại II: Áp dụng 50% khung giá;
d) Đô thị loại III: Áp dụng 20% khung giá. Trường hợp thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn thì áp dụng 10% khung giá.
2. Biểu mức tiền bản quyền trên đây áp dụng cho chủ sở hữu quyền tác giả và áp dụng tương tự cho chủ sở hữu quyền liên quan đối với bản ghi âm, ghi hình được sử dụng.”